Có hai cách nhìn đối với kinh tế hiện nay: Một là nhìn vào hiện tại bạn sẽ lo “chống lạm phát”, hai là nhìn vào tương lai, bạn sẽ lo “chống giảm phát” nhiều hơn. Người viết bài theo khuynh hướng “tương lai” nghĩa là “chống giảm phát” và chịu “chuyển nợ tương lai”.
Lạm phát cao: Nguy cơ thấp
Theo khuynh hướng “chống giảm phát” chứ không phải “chống lạm phát”, chúng tôi ủng hộ mạnh việc Chính phủ dự tính tiếp tục các giải pháp kích thích kinh tế, nhằm làm cho sản xuất hưng phấn trở lại.
Ý kiến không ủng hộ kích cầu tiếp tục thường lo ngại về khả năng tái lạm phát cao, đặc biệt là tạo nên một sức ì khó chữa đối với các doanh nghiệp- những doanh nghiệp cần năng động để đối phó những thách thức lớn hơn trong thời hội nhập kinh tế toàn cầu.
Tuy vậy, Chủ tịch Uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia Lê Đức Thuý lại cho rằng, tất cả những quan ngại trên là không có cơ sở, bao gồm cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn của nền kinh tế. Căn cứ vào diễn biến chỉ số giá thì thấy giá cả đến tháng 7 chỉ tăng 3,3% so với cùng kỳ, còn so với bình quân hằng tháng từ đầu năm đến nay thì mức lạm phát đang giảm dần, từ 12% vào đầu năm xuống còn 9% trong tháng 7.
Như vậy, CPI tháng 8 đã tiếp tục tăng chậm lại đưa CPI của 8 tháng quay về mốc một con số là 8,31% so với cùng kỳ năm 2008- thời cao điểm báo động nguy cơ giảm phát.
Nếu tin vào các con số chính thức này, chúng ta sẽ thấy, dù giá xăng dầu tăng, lạm phát cao sẽ chưa quay lại.
Một điều đơn giản hơn là kinh tế thế giới đang dần hồi phục và trở lại bình thường vào cuối năm 2010. Từ đây đến đó, nếu chúng ta không chuẩn bị, mà quá lo đối phó với lạm phát cao, để sản xuất trì trệ, thì không kịp trở tay khi thế giới phục hồi với tốc độ ngày càng cao.
Trở lại với Keynes
Các biện pháp kích cầu hay kích thích kinh tế chính là phải làm thế nào để tăng khả năng tiêu dùng của quần chúng để phía cầu tăng lên. Như vậy mới có thể làm ngưng việc tụt dốc giá cả. Biện pháp thứ nhất là giúp đỡ trực tiếp cho dân chúng dưới hình thức cứu trợ xã hội hiện nay vẫn còn áp dụng.
Kinh tế gia Keynes không chủ trương việc giúp đỡ xã hội trực tiếp, mà phải kiếm việc giúp đỡ xã hội trực tiếp, mà phải kiếm việc cho quần chúng là và trả lương, như vậy làm giảm thất nghiệp và làm tăng khả năng tiêu dùng.
Mỹ đã áp dụng biện pháp của Keynes bằng những chương trình xây cất hệ thống đường sá, công trình thuỷ lợi hoặc trụ sở hành chính lớn... Phía cầu tăng và chặn đứng việc tụt dốc giá cả. Giá cả bắt đầu xoay chiều lên, các công ty có lợi nhuận và quay trở lại thuê mướn thêm người lao động. Kinh tế phục hồi.
Tại sao người Việt mua hàng Việt?
Keynes đã nhìn ảnh hưởng của việc đầu tư vào những chương trình xây dựng lớn có tầm ảnh hưởng theo cấp số nhân, nghĩa là đầu tư một đồng thì có thể giúp tăng thu nhập của quần chúng đến 4, 5 lần hơn.
Mức độ mà nhân công sử dụng đồng lương thu được vào việc tiêu thụ là yếu tố tạo những ảnh hưởng nội tại của nền kinh tế từng đợt để hiệu quả cuối cùng tăng theo cấp số nhân.
Việc tiêu thụ phải được thực hiện trong lòng của nền kinh tế, chứ không được thất thoát ra ngoài. Giả định Tổng Công ty Than- Khoáng sản Việt Nam nhận kích cầu của Chính phủ, nhưng lại thuê mướn nhân công nước ngoài, thì gói kích cầu sẽ giảm hiệu quả, vì nhân công nước ngoài sẽ gửi lương về nước họ để chi tiêu thay vì tiêu dùng tại Việt Nam.
Cho nên, việc Nhà nước đang cổ động người Việt mua hàng Việt trên thị trường nội địa rất có ý nghĩa khi gói kích cầu của Chính phủ đang “chảy” vào dòng sống.
Sẽ không công bằng với thế hệ sau
Tài trợ cho những chương trình đầu tư là sử dụng vay nợ của Nhà nước theo chính sách thâm thủng tài chính. Chính sách này là việc chuyển nợ từ đời cha sang đời con bởi vì chính đời con được hưởng những hiệu quả của việc đầu tư vào hạ tầng cơ sở kinh tế.
Ở thời 1930 của Keynes, những nguyên vật liệu dùng sản xuất hàng hoá cuối cùng có thế chiếm 70% chi phí của công ty.
Ở thời hiện đại 2009, sản phẩm cuối chỉ cần 20% số nguyên vật liệu tự mình sản xuất. Những nguyên vật liệu này lại thường được nhập từ nước ngoài. Chính cơ cấu tổ chức sản xuất hiện đại này làm cho những “gói kích cầu nội địa” sử dụng vào việc nhập khẩu nguyên vật liệu. Đây là việc là giảm hiệu quả của các gói kích cầu quốc gia.
Chính vì vậy mà Chính phủ Obama phát động chiến dịch “Buy American” và Chính phủ chúng ta cùng dùng “người Việt mua hàng Việt”.
Đối chiếu với những tiêu chuẩn trên đây, nếu chúng ta chỉ dùng gói kích cầu vào việc tiêu dùng mà không đầu tư xây dựng hạ tầng tương ứng, thì sẽ không công bằng đối với tương lai. Nếu con cháu chúng ta phải nhận trả nợ chồng chất mà họ không được hưởng những công trình cơ sở hạ tầng như cầu, cống, metro hiện đại, hệ thống thoát nước tối ưu vv... thì đó là sự bất công với tương lai.
Theo Tổ Quốc


